Tính đến 05/10/2026, hai tài liệu Bộ Y tế/Viện Dinh dưỡng cần ưu tiên sử dụng là:
“Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam” phiên bản 2026: cơ sở để tính nhu cầu năng lượng, protein, chất béo, vitamin và khoáng chất theo tuổi, giới và mức hoạt động.
Quyết định 318/QĐ-BYT ngày 30/01/2026: ban hành Hướng dẫn ăn bổ sung cho trẻ từ 6–23 tháng tuổi.
Các mức dưới đây áp dụng cho trẻ khỏe mạnh. Trẻ sinh non, suy dinh dưỡng, thừa cân–béo phì, dị ứng thực phẩm hoặc mắc bệnh mạn tính cần được cá thể hóa bởi bác sĩ/chuyên gia dinh dưỡng.
Theo Hướng dẫn ăn bổ sung 2026:
Năng lượng từ protein: khoảng 13–20% tổng năng lượng.
Năng lượng từ lipid: khoảng 30–40%.
Protein khuyến nghị:
6–8 tháng: khoảng 15 g/ngày.
9–11 tháng: khoảng 25 g/ngày.
12–23 tháng: khoảng 20 g/ngày.
Lipid tổng số:
6–8 tháng: khoảng 25 g/ngày.
9–11 tháng: khoảng 28,1 g/ngày.
12–23 tháng: khoảng 33,6 g/ngày.
Một số vi chất đáng chú ý:
(Các con số này là nhu cầu tổng thể từ sữa mẹ/sữa công thức và thức ăn, không phải lượng cần bổ sung bằng thuốc)
Bộ Y tế khuyến nghị:
Bắt đầu khi trẻ tròn 6 tháng, tức khoảng 180 ngày; tiếp tục bú mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn nếu phù hợp.
Mỗi bữa nên có đủ bốn nhóm:
Bột đường: gạo, ngô, khoai, mì.
Đạm: thịt, cá, trứng, tôm, sữa, đậu đỗ.
Chất béo: dầu ăn, mỡ phù hợp, lạc, vừng, bơ hạt.
Rau và trái cây.
Tăng dần độ đặc và độ thô:
6–8 tháng: bột/cháo nghiền mịn, mềm.
9–11 tháng: cháo đặc, thức ăn băm nhỏ, miếng mềm cầm tay.
12–23 tháng: cơm nát và thức ăn gia đình đã điều chỉnh.
Không ép ăn; quan sát tín hiệu đói–no của trẻ.
Hạn chế hoặc tránh nước ngọt, trà sữa, bánh kẹo, nước trái cây đóng chai, đồ ăn nhiều muối và thực phẩm chế biến sẵn.
Bảo đảm vệ sinh tay, dụng cụ, nguồn nước, nấu chín và bảo quản an toàn
Sáng: phở/bún có thịt và rau, hoặc bánh mì trứng kèm sữa.
Phụ sáng: trái cây.
Trưa: cơm, cá/thịt, rau xanh, canh.
Phụ chiều: sữa chua hoặc sữa không đường.
Tối: cơm, đậu phụ/trứng/thịt, rau củ.
Nước uống chính: nước lọc; hạn chế nước ngọt và nước trái cây đóng hộp.
Sáng: cơm rang ít dầu hoặc bánh mì trứng, thêm sữa.
Trưa: cơm, cá/thịt gà, rau xanh, canh, trái cây.
Phụ chiều: sữa/sữa chua và trái cây.
Tối: cơm, thịt nạc hoặc đậu phụ, rau củ.
Có thể thêm một phần hạt không muối nếu trẻ không dị ứng và biết nhai an toàn.
Sáng: bún/phở có thịt, rau; hoặc bánh mì trứng và sữa.
Trưa: cơm, cá hoặc thịt, rau, canh, trái cây.
Trước/sau vận động: sữa, sữa chua, chuối hoặc bánh mì nhỏ.
Tối: cơm, thịt/cá/đậu phụ, rau xanh.
Chú trọng thực phẩm giàu sắt như thịt nạc đỏ, thịt gia cầm, cá, trứng, đậu; ăn cùng rau quả giàu vitamin C để hỗ trợ hấp thu sắt.
Theo dõi cân nặng và chiều dài/chiều cao định kỳ, đặc biệt hằng tháng ở trẻ dưới 2 tuổi.
Không đánh giá dinh dưỡng chỉ dựa vào việc trẻ “ăn được bao nhiêu bát”; cần xem biểu đồ tăng trưởng, mức vận động, bệnh lý và tổng khẩu phần.
Nếu trẻ không tăng cân trong 2–3 tháng, chiều cao tăng rất chậm, tiêu chảy kéo dài, nôn nhiều, dị ứng hoặc biếng ăn nghiêm trọng, nên khám chuyên khoa.
Không tự ý dùng sắt, kẽm, vitamin A, vitamin D hay thuốc kích thích ăn nếu chưa được tư vấn. Thực phẩm bổ sung vi chất chỉ nên dùng khi có chỉ định hoặc hướng dẫn chuyên môn.
Tóm lại, điểm cốt lõi của hướng dẫn 2026 là: bắt đầu ăn bổ sung đúng 6 tháng, tiếp tục bú mẹ, bữa ăn đủ bốn nhóm, tăng dần độ thô, ưu tiên thực phẩm tươi và theo dõi tăng trưởng, thay vì chỉ tập trung vào một con số năng lượng.