KHI CON BỊ SỐT
Những câu hỏi thường gặp của cha mẹ khi con bị sốt, bác sĩ Vinh cố gắng giải đáp dưới góc độ khoa học và kinh nghiệm Nhi khoa. Những giải pháp chăm sóc và những thông tin quan trọng, xin mời cha mẹ đón đọc: ....
Bs. Nguyễn Quang VinhNhững câu hỏi thường gặp của cha mẹ khi con bị sốt, bác sĩ Vinh cố gắng giải đáp dưới góc độ khoa học và kinh nghiệm Nhi khoa. Những giải pháp chăm sóc và những thông tin quan trọng, xin mời cha mẹ đón đọc: ....
Bs. Nguyễn Quang VinhNhiệt độ bao nhiêu là sốt? Đo ở đâu là chính xác nhất? Có sự khác biệt nhiệt độ giữa các vị trí đo không? Sốt có lợi hay có hại?
Bs. Nguyễn Quang VinhKhi nào cần dùng thuốc hạ sốt? Dùng loại nào an toàn? Ibuprofen và Paracetamol dùng chung được không?
Bs. Nguyễn Quang VinhKhi nào nên lau người cho con? Cần cho trẻ ăn gì? Cho uống bao nhiêu sữa? Khi nào trẻ được đi học lại?
Bs. Nguyễn Quang VinhTại sao con bị sốt co giật? Có nguy hiểm không? Có bị động kinh không? Khi nào uống thuốc hạ sốt? Cần làm gì khi con co giật?
Bs. Nguyễn Quang Vinh25/10/2025 - Chăm sóc trẻ hằng ngày
Mục lục:
Cảnh báo: Từ sơ sinh đến 3 tháng
Mọi trường hợp có sốt cần được khám.
Để hiểu cần phải chăm sóc trẻ lúc sốt như thế nào là đúng cách, ba mẹ hãy biết những nguyên lý rất cơ bản và đơn giản này:
Vi khuẩn / virus xâm nhập, cơ thể khởi phát quá trình miễn dịch để chống lại
Hệ miễn dịch tạo ra chất Prostaglandin, chất này tác động lên vùng hạ đồi của não
Vùng hạ đồi (có chức quy định mức nhiệt độ của cơ thể, bình thường 37 độ C) bị tác động và tăng ngưỡng nhiệt lên cao (ví dụ, 38-40 độ C) gây ra hiện tượng sốt
Trẻ nhiễm virus thường có cảm giác ớn lạnh, ít khi lạnh run, trừ khi sốt cao
Trẻ nhiễm vi khuẩn, trước khi nóng sốt toàn thân, trẻ có thể trải qua giai đoạn lạnh và run cơ
Lạnh là do mạch máu ngoại biên co lại để dồn máu - nhiệt độ về trung tâm cơ thể
Run là hiện tượng cơ bắp tăng hoạt động để sinh nhiệt
Ngoài ra, còn có hiện tượng gan tăng các hoạt động chuyển hoá để tăng sinh nhiệt
Mục đích: cố gắng tăng và dồn nhiệt độ về "lõi" - trung tâm của cơ thể, để đạt được ngưỡng sốt (do vùng hạ đồi chi phối).
Tình trạng lạnh run này có thể kéo dài vài tiếng đồng hồ nếu không có thuốc hạ sốt.
Khi nhiệt độ lõi cơ thể đạt được mức sốt, có thể xảy ra tiếp 1 trong 2 hiện tượng:
Trẻ tiếp tục lạnh và run để duy trì nhiệt độ lõi ở mức sốt ổn định, hoặc
Trẻ nóng toàn thân ra vùng ngoại biên tay chân (do hoạt động tăng chuyển hoá ở gan đủ để duy trì nhiệt độ sốt)
Khi trẻ dùng thuốc hạ sốt sau 30-60 phút, hoặc khi Prostaglandin hết hiệu lực trên vùng hạ đồi, tín hiệu tăng nhiệt độ và duy trì nhiệt độ sốt giảm và mất đi.
Mạch máu ngoại biên giãn ra và máu phân bộ lại ra ngoại biên tay chân, bé hồng hào và lòng bàn tay bàn chân ấm trở lại.
Vã mồ hôi nhiều giúp bé thoát nhiệt tốt hơn, nhanh chóng giảm nhiệt độ lõi và toàn thân
Khi tác nhận gây bệnh (virus / vi khuẩn / khác) vẫn tồn tại, nhiệt độ cơ thể bé có thể chưa về mức bình thường, mà duy trì ở mức cao hơn, và nối tiếp những đợt sốt tiếp theo. Thuốc hạ sốt không thể đưa nhiệt độ về như bình thường được, mà cần phải điều trị (kháng sinh đối với vi khuẩn, hoặc kháng virus hoặc chờ đối với virus) tác nhân gây bệnh không còn nữa.
Trẻ mất nước trong quá trình sốt mặc dù không có nôn ói hay tiêu chảy. Lượng nước mất không nhận biết (không nhìn thấy bằng mắt thường) này là do:
Tăng chuyển hoá sinh nhiệt trong sốt
Tăng nhịp thở do sốt (và do các bệnh hô hấp)
Sự vã mồ hôi ở giai đoạn sốt thoái lui
Ngoài ra, trẻ sốt kèm theo nôn ói và / hoặc tiêu chảy thì tình trạng mất nước càng nghiêm trọng hơn.
Những trẻ sốt mà không có tiêu chảy-nôn ói, trẻ khát nước uống quá nhiều nước lọc (không có các chất điện giải) dẫn đến "pha loãng máu" khiến nồng độ Natri máu giảm xuống. Đôi khi, natri giảm nhanh và nặng gây ra các rối loạn thần kinh và toàn thân, có thể đe doạ tính mạng.
Những trẻ sốt kèm theo tiêu chảy nhiều có thể gây mất Kali máu qua phân. Tuỳ vào độ nặng của hạ kali máu mà triệu chứng có thể từ mệt mỏi, bỏ bú, chướng bụng, đến yếu cơ, thở mệt, thay đổi tri giác, rối loạn nhịp tim, thậm chí là tử vong.
Những trẻ sốt kèm nôn ói nhiều không uống được, nhất là khi vừa nôn ói vừa tiêu chảy có thể bị rối loạn điện giải toàn diện (hạ natri - kali - clo máu) khiến trẻ rơi vào nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời
Đa số trẻ khi sốt thường không thèm ăn, chỉ một số ít trẻ ăn nhiều hơn. Đường tiêu hoá của trẻ trong lúc sốt có thể có những xáo trộn khiến trẻ nhạt miệng, khó tiêu, đầy hơi.
Nguyên nhân có thể do sốt gây giảm tưới máu ruột, sự tăng nhiệt độ gây rối loạn hoạt động của các loại men (enzyme) tiêu hoá, rối loạn hệ vi sinh đường ruột (và/hoặc do sử dụng kháng sinh).
Những trẻ ăn uống không được khi sốt (nhất là trẻ có nôn ói nhiều, suy dinh dưỡng, béo phì) rất dễ hạ đường huyết. Do năng lượng đến từ đường trong thực phẩm không đáp ứng đủ hoạt động chuyển hoá tăng cao (sốt tăng 1 độ C thì chuyển hoá tăng 10-12%, nhịp thở tăng 2-5 nhịp/phút, nhịp tim tăng 10-15 nhịp/phút). Trẻ nhanh chóng mệt mỏi và rơi vào bệnh cảnh nặng hơn.
Thuốc hạ sốt cần 30-60 phút sau khi uống để có thể phát huy tác dụng hạ sốt
Thuốc hạ sốt không thể cắt hoàn toàn cơn sốt, chỉ giúp giảm nhiệt độ xuống khoảng 1-3 độ C tuỳ trường hợp và giúp bé đỡ mệt.
Thuốc hạ sốt có 2 loại là acetaminophen và ibuprofen. Hãy xem bài: Sử dụng thuốc hạ sốt an toàn ở trẻ em.
xem bài Sốt co giật ở trẻ em
Cảnh báo: Đưa trẻ ĐI VIỆN NGAY nếu có 1 trong các dấu hiệu:
Lừ đừ, ngủ li bì, co giật
Tim đập nhanh bất thường, mệt lả
Yếu tay chân, không đứng – không ngồi được
Thở nhanh bất thường hoặc thở yếu
Không tiểu, môi khô, mắt trũng
Nôn không uống được, tiêu chảy quá nhiều
Trẻ dưới 6 tháng tuổi KHÔNG UỐNG NƯỚC LỌC, phải uống đủ sữa (sữa mẹ/sữa công thức).
Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, chất lỏng có thể là sữa, nước có điện giải (nước điện giải tiêu chuẩn, canh súp hằng ngày)
Uống bao nhiêu chất lỏng?
NHU CẦU CƠ BẢN + MÁT QUA PHÂN + MẤT QUA NÔN ÓI + MẤT KHÔNG NHẬN BIẾT
Lượng chất lỏng cần uống trong ngày cần cho nhu cầu cơ bản được tính đơn giản như sau:
Trẻ dưới 10 kg: cần 100mL cho mỗi ký cân nặng (ví dụ trẻ 8.5kg cần 850mL)
Trẻ 10-20 kg: cần 1000mL + 50mL cho mỗi ký cân nặng trên 10kg (ví dụ trẻ 13kg cần 1000 + 50x3 = 1150 mL)
Trẻ trên 20 kg: cần 1500mL + 20mL cho mỗi ký cân nặng trên 20kg (ví dụ trẻ 24 kg cần 1500 + 20x4 =. 1580mL)
Mỗi 1 độ C tăng lên (so với 37 độ C) thì nhu cầu nước ước lượng tăng thêm 10-12%, tương đương với lượng nước mất không nhận biết do tăng chuyển hoá và tăng hô hấp.
Ước lượng nước mất qua phân (bằng cách cân tã [tã phân] - [tã khô], số gram chênh lệch tương đương số mL nước mất qua phân.
Hoặc có thể đơn giản hơn, lượng chất lỏng cần cho trẻ uống sau mỗi lần tiêu phẩn lỏng như sau:
50 – 100 ml/lần đối với trẻ dưới 2 tuổi.
100 – 200 ml/lần đối với trẻ từ 2 – 5 tuổi.
Uống theo nhu cầu đối với trẻ trên 5 tuổi.
Ước lượng nước mất qua nôn ói.
Cách đơn giản nhất là đong đếm bằng ca / chén / lý
Có thể áng chừng bằng mắt
Có thể tính theo công thức (nhưng phức tạp):
Nôn ít (2-5mL/kg cân năng/lần) ==> Có thể ở nhà uống nước được
Nôn nhiều (5-10 mL/kg/lần) ==> Xem xét nhập viện
Nôn vọt (10-20 mL/kg/lần) ==> Cần nhập viện
Áp dụng cho bé uống đúng và đủ:
Lượng nhu cầu cơ bản + 12% nước mất không nhận biết: rải đều trong ngày, uống từng ngụm nhỏ (nhất là khi trẻ có nôn ói, tiêu chảy)
Uống bù lượng nước mất sau mỗi lần tiêu chảy:
50 – 100 ml/lần đối với trẻ dưới 2 tuổi.
100 – 200 ml/lần đối với trẻ từ 2 – 5 tuổi.
Uống theo nhu cầu đối với trẻ trên 5 tuổi.
Trẻ nôn nhưng vẫn uống chậm được (uống chậm từng muỗng mỗi 3-5 phút):
Muỗng cà phê (3mL), muỗng ăn cơm nhỏ (5-10mL)
Khoảng 50mL sau mỗi lần ói
Lưu ý nhập viện nếu trẻ nôn nhiều hoặc nôn vọt
Ví dụ: Bé 18 tháng, nặng 12kg, hiện đang sốt 39 độ C x 4 đợt sốt trong ngày, tiêu chảy 3 lần, nôn ói 1 lần lượng vừa phải. Bé vẫn tỉnh táo, chơi được, ăn uống chậm thì được, nhanh và nhiều sẽ ói. Bác sĩ chẩn đoán nhiễm trùng tiêu hoá do virus.
Nhu cầu cơ bản 1000 + 2x50 = 1100mL
Nước mất không nhận biết = 1100 x 12% = 132 mL
UỐNG DUY TRÌ = 1100 + 132 =. 1132 mL
Nôn 1 lần lượng vừa phải = khoảng 50mL
Tiêu chảy 3 lần = 3 x 100mL / lần = 300mL
TỔNG TRONG NGÀY = 1132 + 50 + 300 = 1480 mL
Khi trẻ có sốt kèm tiêu chảy và trẻ còn uống được, Cách bù nước và điện giải cho trẻ bị tiêu chảy
Cho trẻ uống dung dịch oresol sau mỗi lần đi phân lỏng với liều lượng như sau:
50 – 100 ml/lần đối với trẻ dưới 2 tuổi.
100 – 200 ml/lần đối với trẻ từ 2 – 5 tuổi.
Uống theo nhu cầu đối với trẻ trên 5 tuổi.
Lưu ý: ORESOL phải dùng loại "áp lực thẩm thấu giảm 245 mosmol/L".
Oresol áp lực thẩm thấu giảm (Oresol245) thường là gói bột loại pha với 200mL nước
Cho gói bột vào bình có chia vạch mL, đổ NƯỚC LỌC đến 200mL, khuấy đều đến khi tan hết
Cất trong ngăn mát tủ lạnh, dùng trong 24h
Ưu tiên dùng Oresol 245 vì hiệu quả bù dịch và điện giải tối ưu nhất, an toàn nhất. Nếu không có oresol thì cho trẻ uống nước cháo muối, nước muối đường hoặc nước dừa non với liều lượng như trên. Cách pha:
Nấu nước cháo muối: 1 nắm gạo + 6 bát (200 ml/bát) nước + 1 nhúm muối (3,5 g) đun sôi cho đến khi hạt gạo nở bung, chắt lấy 1 000 ml. Uống trong thời gian 6 giờ, không hết đổ đi, nấu nồi khác.
Nước muối đường: Hoà tan 1 thìa cà phê gạt bằng muối (3,5 g) + 8 thìa cà phê gạt bằng đường (40 g) + 1 000 ml nước sôi để nguội. Uống trong vòng 24 giờ.
Nước dừa non: Hoà tan 1 thìa cà phê gạt bằng muối (3,5 g) trong 1 000 ml nước dừa non. Uống trong 6 giờ, không hết đổ đi pha bình khác.
Nếu sử dụng thích hợp (đúng lúc, đúng liều, tổng liều, thời gian, không có chống chỉ định) thì thuốc hạ sốt là an toàn.
Để hạ sốt một cách an toàn nhất, chỉ nên sử dụng 1 loại thuốc hạ sốt và ghi chị lại cẩn thận liều dùng và thời điểm dùng để tránh việc dùng quá liều, đặc biệt là khi có nhiều người cùng chăm sóc bé.
Các phương pháp vật lý như miếng dán hạ sốt, lau khăn mát gần như không có tác dụng hạ sốt (nhất là khi chưa uống thuốc hạ sốt).
Cẩn thận: Trẻ <1 tuổi có sốt không được mặc quá nhiều hoặc quấn ủ. Lý do: trẻ nhỏ dễ quá nhiệt.